Qua phân tích các vụ TNLĐ từ các biên bản điều tra TNLĐ trong khu vực có quan hệ lao động cho thấy: Lĩnh vực dịch vụ chiếm 19,2% tổng số vụ và 22,03% tổng số người chết; lĩnh vực xây dựng chiếm 17,12% tổng số vụ tai nạn và 17,8% tổng số người chết; lĩnh vực khai thác mỏ, khai thác khoáng sản chiếm 10,81% tổng số vụ và 10,17% tổng số người chết; lĩnh vực cơ khí, luyện kim chiếm 9,01% tổng số vụ và 9,32% tổng số người chết; lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 8,11% tổng số vụ và 7,63% tổng số người chết.
Loại hình công ty TNHH chiếm 38,74% số vụ tai nạn chết người và 41,53% số người chết; loại hình công ty cổ phần chiếm 30,63% số vụ tai nạn chết người và 29,66% số người chết; loại hình doanh nghiệp nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp chiếm 29,72% số vụ tai nạn chết người và 19,49% số người chết; loại hình doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể chiếm 4,5% số vụ tai nạn và 4,24% số người chết.
Trong các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người nhiều nhất thì TNGT chiếm 30,64% tổng số vụ và 28,81% tổng số người chết; ngã từ trên cao, rơi chiếm 18,92% tổng số vụ và 17,8% tổng số người chết; máy, thiết bị cán, kẹp, cuốn chiếm 15,32% tổng số vụ và 14,41% tổng số người chết; điện giật chiếm 9,01% tổng số vụ và 8,47% tổng số người chết; đổ sập chiếm 7.21% tổng số vụ và 9,32% tổng số người chết.
Nguyên nhân của các vụ TNLĐ do người sử dụng lao động chiếm 47,74% tổng số vụ và 49.99% tổng số người chết; do NLĐ vi phạm quy trình quy chuẩn ATLĐ chiếm 14,41% tổng số số vụ và 14,41% tổng số người chết. Còn lại 37,85% tổng số vụ TNLĐ và 35,6% tổng số người chết, xảy ra do các nguyên nhân khác như: TNGT, nguyên nhân TNLĐ do người khác, khách quan khó tránh.
